Động cơ rung 0.55kW (motor rung 0.75HP, đầm rung 0.55kW) là cấp công suất được dùng rất nhiều cho sàng rung cỡ vừa, máng cấp liệu, bàn rung đúc khuôn nhỏ và phễu chứa cần chống kẹt liệu. Ở cấp này có hai hướng chọn chính: bản 2 cực CVM-800/3 (lực ly tâm tối đa khoảng 8 kN, tần số rung gần 50 Hz) và bản 4 cực CVM-700/4 (khoảng 7 kN, tần số rung gần 25 Hz). Cả hai mã đều là động cơ 3 pha, tem ghi 220/380V và có búa chỉnh lực rung ở hai đầu trục.
Bài này đi vào từng mã motor rung cấp 0,55 kW: đọc tem cho đúng (công suất vào và công suất ra), kích thước chân đế, mô-men tĩnh tính ngược từ lực rung, cách ước lượng khối lượng rung được, và chọn 2 cực hay 4 cực cho từng việc.
Động cơ rung 0.55kW là động cơ điện không đồng bộ rotor lồng sóc, công suất định mức khoảng 0,55 kW, hai đầu trục lắp khối lệch tâm để sinh lực ly tâm. Thông số quan trọng nhất của nó không phải mô-men xoắn trên trục mà là lực ly tâm (kN) và mô-men tĩnh (kg·cm). Với lực khoảng 7–8 kN, motor chỉ nặng khoảng 21–28 kg nhưng đủ rung một sàng hoặc máng vài trăm kg.
Về motor nền, đây là dải tương ứng với nhóm motor điện 3 pha 0.75HP 0.55kW; tuy vậy vỏ, trục và ổ bi motor rung được thiết kế riêng để chịu lực hướng kính lớn.
Bảng thông số các mã động cơ rung 0.55kW
Bảng dưới tổng hợp thông số đọc trên tem và bản vẽ của từng mã. Cột "mô-men tĩnh" là giá trị tính ngược từ lực ly tâm ở tốc độ đồng bộ (cách tính ở mục 2), dùng để so sánh biên độ giữa các mã, không phải số in trên tem.
| Mã hàng | Số cực / tốc độ | Lực ly tâm tối đa | Lực khi chỉnh nhỏ nhất | Công suất vào / ra | Dòng định mức (380V) | Khối lượng | Chân đế (khoảng cách lỗ) | Mô-men tĩnh tính ngược |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| CVM-800/3 (tương đương MVE 800/3) | 2 cực, ~3000 v/ph | 8 kN | 1,6 kN | 0,75 kW / 0,55 kW | 1,45 A | 21,5 kg | 120 × 168 mm, lỗ Ø16 | ≈ 8,1 kg·cm |
| CVM-700/4 | 4 cực, ~1500 v/ph | 7 kN | 1,4 kN | 0,62 kW / 0,55 kW | 1,32 A | 27,4 kg | 120 × 170 mm | ≈ 28,4 kg·cm |
Đọc tem đúng: công suất vào, công suất ra và điện áp 220/380V
Tem dòng CVM ghi hai giá trị công suất. Input Power là công suất điện tiêu thụ từ lưới, Output Power là công suất cơ định mức trên trục. Ví dụ CVM-800/3 ghi vào 0,75 kW, ra 0,55 kW; CVM-700/4 ghi vào 0,62 kW, ra 0,55 kW. Khi tính tiền điện, chọn aptomat hay chọn biến tần, dùng dòng định mức và công suất vào; khi gọi tên cấp công suất (0,55 kW, 0.75HP), người ta dùng công suất ra.
Điện áp 220/380V trên tem có nghĩa là motor 3 pha đấu được hai kiểu: tam giác (Δ) cho lưới 3 pha 220V và sao (Y) cho lưới 3 pha 380V. Đây không phải điện 1 pha 220V gia đình; cách chạy các mã này từ nguồn 1 pha được trình bày ở mục 6. Danh mục motor điện 3 pha có thể giúp bạn đối chiếu cách đọc tem với motor 3 pha thông thường.
Về mặt điện từ, motor rung là motor cảm ứng 3 pha bình thường, không có nam châm vĩnh cửu và không có bộ điều khiển hay cảm biến lắp sẵn. Khác biệt nằm ở phần cơ khí: trục nhô hai đầu, ổ bi cỡ lớn và hai cụm khối lệch tâm.

Ảnh gồm bốn hình: hai motor rung nguyên chiếc (vỏ xanh và vỏ cam) và hai hình cắt lớp. Ở hình cắt có thể thấy stator quấn dây nằm trong vỏ, rotor gắn trên trục, ổ bi ở hai đầu và khối lệch tâm lắp ở hai đầu trục ngoài ổ bi; hộp đấu dây nằm trên thân motor.
Dòng ZW là loại lực cố định, không có búa chỉnh. Video dưới đây giới thiệu dòng động cơ rung ZW để bạn đối chiếu hình dáng và cách vận hành với dòng CVM có búa chỉnh lực:
Nguyên lý: lực ly tâm F = m·r·ω²
Khi cấp điện 3 pha, từ trường quay trong stator kéo rotor lồng sóc quay gần tốc độ đồng bộ. Khối lệch tâm có khối lượng m, trọng tâm cách tâm trục một khoảng r, quay theo trục với vận tốc góc ω nên sinh lực ly tâm F = m·r·ω². Tích m·r chính là mô-men tĩnh (working moment). Lực này có phương quay tròn theo trục, đổi hướng liên tục 50 lần mỗi giây với motor 2 cực, 25 lần mỗi giây với motor 4 cực, truyền qua ổ bi, vỏ, chân đế vào thân máy và làm cả hệ dao động.
Đảo công thức ta có mô-men tĩnh Me = F / ω², với ω = 2π·n/60. Ở 3000 v/ph, ω ≈ 314 rad/s nên 1 kN tương ứng khoảng 1,01 kg·cm; ở 1500 v/ph, ω ≈ 157 rad/s nên 1 kN tương ứng khoảng 4,05 kg·cm. Vì lực tỉ lệ với bình phương tốc độ, muốn cùng lực thì motor 4 cực phải mang khối lệch tâm có mô-men tĩnh gấp khoảng 4 lần motor 2 cực, kéo theo trục, ổ bi và vỏ lớn hơn. Đó là lý do CVM-700/4 lực thấp hơn CVM-800/3 nhưng mô-men tĩnh lớn gấp khoảng 3,5 lần và nặng 27,4 kg so với 21,5 kg.
Tần số rung, biên độ và gia tốc
Tần số rung bằng tốc độ quay chia 60: motor 2 cực chạy khoảng 2.900–3.000 v/ph cho tần số khoảng 48–50 Hz; motor 4 cực chạy khoảng 1.400–1.500 v/ph cho khoảng 24–25 Hz (lưới 50 Hz). Trên một máy treo trên lò xo mềm, biên độ đỉnh–đỉnh xấp xỉ bằng 2 × mô-men tĩnh tổng / khối lượng tham gia rung, còn gia tốc rung bằng lực ly tâm chia khối lượng đó.
Ví dụ cùng một sàng có tổng khối lượng tham gia rung 300 kg (khung sàng, lưới, vật liệu trên sàng và chính motor):
Hai motor cùng cấp 0,55 kW cho gia tốc gần như nhau, nhưng biên độ chênh nhau khoảng 3,5 lần. Đây là cơ sở để chọn 2 cực hay 4 cực ở các mục sau.
Cấp 0,55 kW có hai mã chính: CVM-800/3 bản 2 cực và CVM-700/4 bản 4 cực.
CVM-800/3 là mã đại diện của cấp động cơ rung 0.55kW 2 cực. Số "800" chỉ lực ly tâm cực đại khoảng 800 kgf (8 kN), hậu tố "/3" chỉ tốc độ 3000 v/ph (2 cực), cùng cách đặt tên với dòng MVE (OLI, Ý). Đây là mã có lực lớn nhất trong nhóm 0,55 kW.

Ảnh thể hiện motor CVM-800/3, tương đương MVE 800/3, 2 cực, lực ly tâm 8 kN, tem ghi công suất vào 0,75 kW và công suất ra 0,55 kW, dòng 1,45 A, khối lượng 21,5 kg. Bản vẽ cho kích thước tổng 362 × 210 mm, chân đế khoảng cách lỗ 120 × 168 mm, lỗ Ø16. Lực chỉnh được từ 8 kN xuống 1,6 kN, tức giảm tối đa 80%. Con số "khoảng 400 kg" in trên ảnh là ước lượng cho vật liệu tơi xốp, ít kết dính (cách tính xem mục 4).
Ứng dụng phù hợp với CVM-800/3
Với tần số gần 50 Hz và biên độ nhỏ, CVM-800/3 phát huy tốt ở:
Video động cơ rung CVM cấp 0,55 kW khi vận hành:
Điểm cần lưu ý riêng: CVM-800/3 dễ bị đặt "quá tay" lên kết cấu nhẹ. Khung thép hộp mỏng hay mặt tôn 3 mm không gân sẽ sớm nứt mối hàn dưới lực 8 kN đổi chiều 50 lần mỗi giây. Khi chạy thử, nên bắt đầu ở mức búa khoảng 50–60% rồi tăng dần.
Ảnh và bản vẽ các bản 2 cực cùng khung với CVM-800/3
Cùng dòng CVM 2 cực còn có CVM-500/3 0,45 kW và CVM-700/3 0,5 kW, dùng chung khung vỏ 362 × 210 mm và chân đế 120 × 168 mm với CVM-800/3. Ảnh và bản vẽ của hai bản này giúp đối chiếu kích thước lắp đặt:

Ảnh là bản CVM-500/3 cùng dòng (tương đương MVE 500/3), 2 cực 3000 v/ph, công suất 0,45 kW, lực 5 kN, dòng 0,96 A, khối lượng 18,8 kg. Kích thước tổng 362 × 210 mm, chân đế 120 × 168 mm. Lực điều chỉnh từ 5 kN xuống 1,25 kN; ảnh ghi ước lượng khoảng 250 kg vật liệu tơi.
Video vận hành thực tế của động cơ rung CVM 0,45 kW:
Video thực tế đầm rung CVM-500/3 0,45 kW, lực 5 kN, 2 cực 3 pha:

Bản vẽ CVM-700/3 0,5 kW cùng dòng cho các kích thước: dài 362 mm, rộng 210 mm, cao 207 mm, khoảng cách lỗ chân đế 120 mm (dọc) và 168 mm (ngang). Ảnh kèm hình cắt lớp cho thấy bên trong motor và ghi chú đây là mã chỉnh được lực rung.
Theo cách đặt mã, CVM-700/3 có lực tối đa khoảng 7 kN; mã tương đương theo cách đặt tên dòng MVE là MVE 700/3. Thông số dòng điện và khối lượng cần đọc trực tiếp trên tem của từng lô hàng.
Đoạn video về đầm rung CVM cấp 0,5 kW:
CVM-700/4 là phiên bản 4 cực của cấp 0,55 kW. Lực ly tâm tối đa 7 kN, nhưng tốc độ chỉ khoảng 1.450–1.500 v/ph nên mô-men tĩnh lớn, biên độ rung lớn, chuyển động "mạnh và chậm" hơn hẳn bản 2 cực. Theo cách đặt tên gốc của dòng MVE (OLI), motor 4 cực mang hậu tố "/15"; dòng CVM dùng "/4" để chỉ 4 cực.

Ảnh là motor rung CVM-700/4 với lực 7 kN, tem ghi công suất vào 0,62 kW, công suất ra 0,55 kW, khối lượng 27,4 kg; kích thước tổng 362 × 208 mm, khoảng cách lỗ chân đế 120 × 170 mm. Theo tem cùng mã, dòng định mức là 1,32 A và lực chỉnh được từ 7 kN xuống 1,4 kN.
Khi nào nên chọn CVM-700/4 thay cho CVM-800/3?
Chọn bản 4 cực khi vật liệu nặng, hạt thô hoặc hơi ẩm và bạn cần nó "nhảy" trên mặt sàng, tách lớp rõ, không bị bết thành mảng:
Video sau cho thấy motor rung 4 cực cấp 0,55 kW khi chạy:
Bản 6 cực CVM 500/6 cùng công suất
Cùng công suất 0,55 kW còn có bản 6 cực CVM 500/6 (lực 5 kN, khoảng 1.000 v/ph, khối lượng 34 kg). Mô-men tĩnh tính ngược khoảng 45,6 kg·cm, cho biên độ lớn nhất trong nhóm, dùng cho sàng vật liệu thô, nặng hoặc khi muốn giảm văng bụi tối đa.
Câu hỏi thường gặp nhất là "motor rung 0.55kW rung được bao nhiêu kg". Con số trên ảnh như 400 kg (CVM-800/3) hay 347 kg (CVM-700/4) là quy ước bán hàng, tương đương lấy lực (kN) nhân 50. Quy ước này ngầm giả định gia tốc khoảng 2 g, áp dụng cho vật liệu tơi xốp, ít kết dính. Muốn chọn đúng, cần tính theo gia tốc mà ứng dụng yêu cầu.
Công thức ước lượng khối lượng tham gia rung
Khối lượng tham gia rung M (kg) ≈ F (N) / (k × 9,81), trong đó k là hệ số gia tốc (số lần g) mà ứng dụng cần. M bao gồm toàn bộ phần chuyển động: khung, máng hoặc mặt bàn, lưới sàng, vật liệu đang nằm trên máy, motor và tấm đế gắn motor.
| Ứng dụng | Hệ số gia tốc k điển hình | CVM-800/3 (8 kN) | CVM-700/4 (7 kN) |
|---|---|---|---|
| Máng cấp liệu, băng rung | 2–4 g | ≈ 200–410 kg | ≈ 180–360 kg |
| Sàng rung | 3–5 g | ≈ 165–270 kg | ≈ 145–240 kg |
| Bàn rung đầm khuôn bê tông | 3–6 g | ≈ 135–270 kg | ≈ 120–240 kg |
Ví dụ: một sàng bột khung thép nặng 120 kg, lưới và vật liệu trên sàng khoảng 40 kg, motor CVM-800/3 21,5 kg, tấm đế 8 kg, tổng khoảng 190 kg. Gia tốc ở 100% ≈ 8.000 / 190 ≈ 42 m/s² ≈ 4,3 g, nằm trong vùng sàng rung. Nếu vật liệu dễ vỡ hoặc bụi nhiều, chỉnh búa xuống khoảng 80% lực để còn khoảng 3,5 g.
Một hay hai motor?
Một motor rung gắn lệch tâm máy tạo rung tròn hoặc elip, đủ cho sàng tròn nhỏ, bàn rung, phễu. Khi cần rung thẳng (sàng rung chữ nhật, băng rung tuyến tính), dùng hai motor cùng mã, cùng mức búa, quay ngược chiều nhau: thành phần lực vuông góc triệt tiêu, thành phần dọc cộng lại, tạo chuyển động tuyến tính. Trên một khung đủ cứng, hai motor tự đồng bộ pha sau vài giây chạy. Đường lực thường đặt nghiêng khoảng 45° so với mặt máng để có góc ném phù hợp. Hai motor phải khởi động đồng thời và có liên động bảo vệ: một motor quá tải thì ngắt cả hai, tránh một motor chạy một mình làm máy rung lệch. Tổng lực là 2 × 8 = 16 kN với cặp CVM-800/3, hoặc 2 × 7 = 14 kN với cặp CVM-700/4.
Các mã CVM trong nhóm 0,55 kW dùng búa chỉnh kiểu A: ở mỗi đầu trục có một khối lệch tâm cố định và một khối di động bắt bulông. Lực rung thay đổi theo góc lệch giữa hai khối, không thay đổi bằng bộ điều khiển hay bằng cách "thêm tấm rung".

Hình vẽ minh họa ba trạng thái của khối lệch tâm màu vàng ở đầu trục: "100%" khi khối di động chồng khít khối cố định, "adjusted masses" khi đã xoay lệch khối di động để giảm lực, và hình bị gạch chéo "incorrectly adjusted masses" khi hai đầu trục đặt khác nhau, đây là cách chỉnh sai.
Các bước chỉnh
Quan hệ giữa vạch chỉnh và lực rung
Ở mức 100%, tổng mô-men tĩnh lớn nhất; xoay lệch càng nhiều, mô-men tĩnh tổng càng nhỏ. Mức giảm tối đa khoảng 80% (lực còn khoảng 20%): CVM-800/3 còn khoảng 1,6 kN, CVM-700/4 còn khoảng 1,4 kN theo số ghi trên ảnh. Biên độ giảm cùng tỉ lệ với lực, vì cả hai đều tỉ lệ với mô-men tĩnh khi tốc độ không đổi.
Hai đầu phải đặt cùng vạch. Nếu một đầu để 100%, đầu kia 50%, lực ly tâm hai đầu không bằng nhau, tạo mô-men xoắn lắc quanh trục ngang của motor. Kết quả là rung xoắn, một ổ bi chịu tải nặng hơn hẳn, nhiệt độ ổ bi đó tăng nhanh và có thể hỏng chỉ sau vài chục giờ.
Phần lớn sự cố ở cấp này đến từ cách bắt motor lên máy chứ không phải từ cuộn dây.
Tấm đế và bulông
Cáp điện và bảo vệ
Chạy bằng biến tần và từ nguồn 1 pha
Các mã CVM 3 pha trong nhóm này chạy được với biến tần trong dải khoảng 20 Hz đến 50 Hz, không vượt tần số ghi trên tem. Lực giảm theo bình phương tần số: ở 40 Hz lực còn khoảng 64%, ở 30 Hz còn khoảng 36%. Biến tần còn giúp hãm nhanh để máy ít lắc khi đi qua vùng cộng hưởng lúc dừng. Nếu xưởng chỉ có điện 1 pha, có thể dùng biến tần vào 1 pha 220V ra 3 pha 220V, đấu motor kiểu tam giác Δ; dòng ở 220V khi đó khoảng √3 lần dòng 380V (khoảng 2,5 A với CVM-800/3). Nên chọn biến tần lớn hơn motor một cấp (0,75 kW trở lên) vì tải khởi động khối lệch tâm khá nặng. Người cần motor rung chạy trực tiếp điện 1 pha có thể tham khảo nhóm động cơ điện 1 pha và các bản motor rung 1 pha có tụ.
Các hiện tượng hay gặp ở cấp 0,55 kW:
| Hiện tượng | Nguyên nhân thường gặp | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Đứt bulông chân, nứt tấm đế | Tấm đế mỏng, bulông cấp bền thấp, không siết lại sau khi chạy đầu | Thay bulông 8.8, làm lại tấm đế dày có gân, siết theo lịch |
| Nóng ổ bi một đầu | Hai đầu búa chỉnh lệch nhau; bệ yếu gây rung xoắn | Chỉnh hai đầu cùng vạch; gia cố bệ |
| Dòng cao hơn tem, vỏ nóng ngay khi mới lắp | Kết cấu quá mềm hoặc cộng hưởng gần 25 Hz/50 Hz, lực 100% trên máy nhẹ, điện áp một pha bị thấp | Giảm búa xuống khoảng 50–60%, kiểm tra lò xo, đo điện áp từng pha rồi tăng lực dần |
| Tiếng hú, rít lớn | Ổ bi thiếu mỡ hoặc mòn; bộ phận máy lỏng va đập | Kiểm tra ổ bi, siết các chi tiết của máy |
| Vật liệu không đi hoặc đi chậm | Lực thấp, sai chiều quay khi chạy cặp, góc đặt motor không đúng | Tăng búa, đảo chiều một motor, chỉnh góc ~45° |
| Máy lắc mạnh lúc dừng | Đi qua tần số riêng của hệ lò xo khi motor chậm dần | Dùng lò xo mềm hơn, hãm bằng biến tần |
Hệ lò xo hoặc cao su đỡ máy nên có tần số riêng thấp hơn tần số rung ít nhất khoảng 3–4 lần (dưới khoảng 12 Hz cho bản 2 cực, dưới khoảng 6–8 Hz cho bản 4 cực), để rung không truyền mạnh xuống nền.
Động cơ rung 0.55kW rung được bao nhiêu kg?
Số in trên ảnh (400 kg với CVM-800/3, 347 kg với CVM-700/4) ứng với gia tốc khoảng 2 g cho vật liệu tơi xốp. Với sàng rung 3–5 g, CVM-800/3 hợp tổng khối lượng tham gia rung khoảng 165–270 kg, tính cả khung, vật liệu và motor.
CVM-800/3 và CVM-700/4 cùng 0,55 kW, nên chọn mã nào cho sàng cát?
Cát xây dựng, đá mi, sỏi hoặc cát hơi ẩm nên dùng CVM-700/4: trên máy 300 kg biên độ khoảng 1,9 mm so với 0,5 mm của CVM-800/3. CVM-800/3 chỉ hợp cát mịn đã khô qua lưới mắt nhỏ.
Bàn rung đổ bê tông, gạch không nung nên dùng 2 cực hay 4 cực?
Bê tông dẻo, cấu kiện mỏng dùng CVM-800/3 (gần 50 Hz); bê tông khô độ sụt thấp, gạch block dùng CVM-700/4. Một bàn 1 × 1 m chở khuôn và bê tông khoảng 150–200 kg thường đủ với một motor cấp này.
Động cơ rung 0.55kW có chạy được điện 1 pha 220V gia đình không?
Không cắm trực tiếp được, vì cả CVM-800/3 và CVM-700/4 đều là motor 3 pha. Phải dùng biến tần vào 1 pha 220V ra 3 pha 220V, đấu Δ, biến tần từ 0,75 kW trở lên; dòng khi đó khoảng 2,5 A với CVM-800/3.
Ghép hai motor rung 0.55kW trên một sàng được không?
Được, đây là cách làm chuẩn cho sàng rung thẳng: hai motor cùng mã, cùng mức búa, quay ngược chiều, có liên động. Cặp CVM-800/3 cho tổng 16 kN, cặp CVM-700/4 cho 14 kN.
Dùng biến tần chỉnh tần số thì lực rung thay đổi thế nào?
Lực tỉ lệ bình phương tốc độ: CVM-800/3 ở 40 Hz còn khoảng 5,1 kN, ở 30 Hz còn khoảng 2,9 kN. Không chạy vượt 50 Hz và không xuống dưới khoảng 20 Hz.
Chỉnh búa xuống 50% thì lực còn bao nhiêu?
Lực giảm gần theo vạch chia: CVM-800/3 ở 50% cho khoảng 4 kN, CVM-700/4 khoảng 3,5 kN. Mức thấp nhất khoảng 20% (1,6 kN và 1,4 kN).
Động cơ rung 0.55kW có chạy liên tục 24/24 được không?
Các tem dòng CVM thường ghi chế độ làm việc liên tục S1 và cách điện cấp F, nên chạy dài ca được nếu bệ cứng, búa chỉnh đúng và dòng không vượt tem. Với chống kẹt phễu, nên chạy ngắt quãng theo lệnh xả liệu thay vì chạy liên tục khi phễu đã rỗng, vì rung phễu rỗng làm mỏi kết cấu.
Thay CVM-800/3 bằng CVM-700/4 trên máy đang chạy cần chuẩn bị gì?
Ngoài việc chân đế lệch 2 mm (120 × 170 so với 120 × 168 mm), CVM-700/4 nặng hơn khoảng 6 kg và mô-men tĩnh lớn gấp khoảng 3,5 lần, nên biên độ trên cùng máy tăng mạnh. Cần kiểm tra lại độ võng lò xo, khe hở giữa khung rung và kết cấu đứng yên, độ bền ống xả mềm, rồi chạy thử ở mức búa thấp trước khi tăng lên.