Động cơ rung 0.1kW (motor rung 0.1kW, đầm rung 100W) là nhóm motor rung cỡ nhỏ nhất dùng trong công nghiệp nhẹ, tạo lực ly tâm cực đại khoảng 1 kN (≈ 102 kgf) ở tốc độ 2 cực khoảng 3.000 vòng/phút. Nhóm này gồm ba mã thường gặp: CVM100-2S 1 pha 220V lực 1 kN, CVM 100/3 3 pha 220/380V lực 1 kN và CVM-200S 1 pha 220V công suất 0,13 kW có tụ rời. Đây là cỡ motor dành cho phễu nhỏ, sàng rung mini, máng cấp liệu của máy đóng gói, bàn rung mẫu – không phải cỡ dành cho bàn rung đổ bê tông hay sàng cát công suất lớn.
Khi chọn đầm rung 100W, thông số quyết định là lực rung (kN), kiểu nguồn điện (1 pha hay 3 pha) và khối lượng của toàn bộ phần máy tham gia rung, không phải con số công suất.
Động cơ rung 0.1kW là động cơ điện không đồng bộ rotor lồng sóc công suất khoảng 100 W, hai đầu trục gắn khối lệch tâm (còn gọi là quả văng, búa rung). Khi trục quay, khối lệch tâm sinh lực ly tâm quay tròn; lực này truyền qua chân đế vào thân máy và làm cả kết cấu rung theo. Trong tiếng Anh gọi là vibrator motor, tiếng Đức là Unwuchtmotor, tiếng Ý là motovibratore, tiếng Trung là 振动电机.
Ở cỡ 0.1kW, thị trường Việt Nam chủ yếu có dòng CVM vỏ nhôm hoặc vỏ gang nhỏ, chỉnh được lực rung bằng cách xoay khối lệch tâm. Dòng ZW lực cố định hầu như bắt đầu từ cỡ lớn hơn, nên ở công suất 100 W người dùng thường chọn giữa ba mã dưới đây.
| Thông số | CVM100-2S-2-0.1 | CVM 100/3 | CVM-200S |
|---|---|---|---|
| Công suất | 100 W | 0,1 kW | 0,13 kW |
| Nguồn điện | 1 pha 220V, 50 Hz | 3 pha 220/380V (Δ/Y), 50 Hz | 1 pha 220V, 50 Hz, có tụ rời |
| Lực ly tâm cực đại | 1 kN | 1 kN | khoảng 2 kN (theo tên mã) |
| Số cực / tốc độ | 2 cực, 3.000 v/ph | 2 cực, 3.000 v/ph | 2 cực, khoảng 3.000 v/ph |
| Dòng điện tem | 0,76 A | 0,19 A | xem tem thực tế |
| Khối lượng motor | 2,3 kg | 5,9 kg | khoảng 7 kg |
| Kích thước bao (dài × cao × rộng) | 169,9 × 109,8 × 82 mm | 231 × 159 × 131 mm | 231 × 157 × 131 mm |
| Cấp nguồn | Dây có phích cắm, hộp công tắc | Hộp đấu dây, cấp từ tủ điện | Hộp đấu dây + tụ rời |
| Chỉnh lực rung | Có | Có, giảm tối đa khoảng 80% | Có, giảm tối đa khoảng 80% |
Bảng trên cho thấy một điều dễ bị bỏ qua: cùng ghi “0.1kW” nhưng CVM100-2S và CVM 100/3 có cùng lực 1 kN, còn CVM-200S tuy chỉ hơn 30 W lại thuộc cấp lực khoảng 2 kN. Vì vậy, khi thay thế motor cũ, hãy so lực rung và kích thước chân đế trước, công suất chỉ là thông số tham khảo.
Cách đọc mã CVM và mã tương đương
Dòng CVM đặt tên theo cách của dòng MVE (OLI, Ý): con số đầu xấp xỉ lực ly tâm cực đại tính bằng kgf, hậu tố cho biết số cực. Theo cách đặt tên này:
Mã tương đương chỉ dùng để đối chiếu cỡ lực và số cực; nó không có nghĩa motor CVM là hàng chính hãng OLI. Khi thay thế, ngoài lực và số cực còn phải khớp khoảng cách lỗ chân đế, đường kính bulông và điện áp.
Video dưới đây cho thấy hình dáng thực tế và cách vận hành của đầm rung CVM cỡ 0.1kW:
Các bộ phận chính
Về cấu tạo, motor rung 0.1kW là một động cơ không đồng bộ thông thường được gia cố để chịu tải hướng kính rất lớn. Rotor không phải nam châm, cũng không có “cuộn phụ” tạo rung; rung động hoàn toàn đến từ khối lệch tâm cơ khí gắn ở hai đầu trục.

Hình minh họa gồm bốn ảnh: hai motor rung vỏ xanh và vỏ cam nhìn từ ngoài, cùng hai ảnh cắt lớp cho thấy bên trong có stator quấn dây, rotor lắp trên trục, ổ bi ở hai đầu, khối lệch tâm ở hai đầu trục và hộp đấu dây đặt trên thân. Motor 0.1kW có cùng sơ đồ cấu tạo này, chỉ nhỏ hơn về kích thước:
Motor rung không có bộ điều khiển hay cảm biến tích hợp; bảo vệ quá tải, khởi động từ, biến tần đều lắp bên ngoài trong tủ điện.
Lực rung và tần số rung của cỡ 0.1kW
Lực ly tâm của khối lệch tâm tính theo công thức F = m·r·ω², trong đó m·r là mô-men tĩnh (working moment, tính bằng kg·cm hoặc kg·mm) và ω là tốc độ góc (rad/s). Với motor 2 cực ở 3.000 v/ph, ω ≈ 314 rad/s, ω² ≈ 98.700. Để có 1 kN, mô-men tĩnh tổng của hai đầu trục cần khoảng 1.000 / 98.700 ≈ 0,0101 kg·m, tức khoảng 1 kg·cm (≈ 10 kg·mm). Nói cách khác, chỉ cần tổng cộng khoảng 100 g khối lệch đặt cách tâm trục 1 cm là đủ tạo lực 1 kN ở tốc độ này – đó là lý do motor 2,3 kg vẫn ghi lực 1 kN.
Một motor gắn đơn lẻ tạo rung tròn hoặc elip trên mặt phẳng vuông góc với trục. Tần số rung bằng tốc độ quay. Ba mã 0.1kW đều là 2 cực, tốc độ đồng bộ 3.000 v/ph; tốc độ thực tế có tải thường khoảng 2.850–2.950 v/ph, tương đương tần số rung khoảng 48–49 Hz. Tần số cao như vậy hợp với vật liệu mịn, hạt nhỏ, bột, chống bám dính thành phễu; với vật liệu thô, cục lớn thì motor 4 cực hoặc 6 cực cho biên độ lớn hơn sẽ hiệu quả hơn.
Đây là mã nhỏ gọn nhất của nhóm, vỏ cỡ nhỏ giống bản 60W, nhưng lực rung cực đại tăng lên 1 kN. Motor có sẵn dây nguồn với phích cắm và hộp công tắc, cắm trực tiếp vào ổ điện 220V gia đình, rất tiện cho thiết bị di động hoặc máy nhỏ không có tủ điện.

Ảnh thể hiện motor rung 100W mã CVM100-2S-2-0.1: lực 1 kN, điện 1 pha 220V, dòng 0,76 A, tốc độ 3.000 v/ph, khối lượng 2,3 kg; motor có dây nguồn phích cắm và hộp công tắc. Bản vẽ ghi kích thước tổng dài 169,9 mm, cao 109,8 mm, rộng 82 mm, cùng khung vỏ với bản 60W, và ghi chú tải trọng dưới 95 kg.
Video thực tế động cơ rung 100W 2 cực 1 pha 220V:
Video đấu điện thực tế và quan sát lực rung của động cơ rung 100W 1 pha:
CVM 100/3 là bản 3 pha công nghiệp, cùng lực 1 kN nhưng khung vỏ lớn hơn nhiều so với CVM100-2S. Khung 231 mm này dùng chung cho các mã 2 cực từ 1 kN đến 2 kN, nên tản nhiệt và ổ bi có dư địa tốt hơn cho chạy liên tục trong dây chuyền.

Ảnh gồm tem và bản vẽ của CVM 100/3: công suất 0,1 kW, lực rung 1 kN, điện 3 pha 220/380V, dòng 0,19 A, tốc độ 3.000 v/ph, khối lượng 5,9 kg. Kích thước tổng dài 231 mm, cao 159 mm, rộng 131 mm; chân đế 4 lỗ Ø9. Ảnh ghi chú motor rung ít hơn 98 kg vật liệu – đây là mức ước lượng cho vật liệu tơi xốp, sẽ được giải thích ở mục 4.
CVM-200S là bản 1 pha có tụ rời, công suất 0,13 kW, dùng chung khung vỏ cỡ 231 mm với CVM 100/3. Theo cách đặt tên, “200” tương ứng lực khoảng 2 kN, tức gấp đôi lực của hai mã 1 kN ở trên. Đây là lựa chọn khi chỉ có điện 220V nhưng cần lực lớn hơn 1 kN mà không muốn dùng biến tần.

Bản vẽ thể hiện CVM-200S 0,13 kW, điện 1 pha 220V, có tụ rời đi kèm. Kích thước tổng dài 231 mm, cao 157 mm, rộng 131 mm; khoảng cách tâm hai lỗ chân đế dọc trục 68 mm, ngang trục 106 mm.
Video thực tế motor rung 130W 2 cực 1 pha 220V dòng CVM-200S:
Video tổng quan motor rung 100W 2 cực khi chạy thực tế:
Câu trả lời ngắn: một motor rung 1 kN đủ làm rung tổng khối lượng khoảng 20–50 kg (máy + vật liệu tham gia rung) ở mức gia tốc 2–5 g dùng cho máng cấp liệu và sàng rung. Các con số “rung được 95 kg”, “ít hơn 98 kg” in trên ảnh là ước lượng cho vật liệu tơi xốp, ít kết dính và yêu cầu rung nhẹ, tương ứng gia tốc chỉ khoảng 1 g.
Gia tốc rung của hệ a = F / M, trong đó M là tổng khối lượng tham gia rung (khung máy, máng, lưới, vật liệu nằm trên máng và chính motor). Đặt a = k·g (k là hệ số gia tốc, g = 9,81 m/s²), ta có M ≈ F / (k·g). Hệ số k điển hình:
| Lực rung | k = 1 g | k = 2 g | k = 3 g | k = 4 g | k = 5 g |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 kN (CVM100-2S, CVM 100/3) | ≈ 102 kg | ≈ 51 kg | ≈ 34 kg | ≈ 25 kg | ≈ 20 kg |
| 2 kN (CVM-200S ở 100%) | ≈ 204 kg | ≈ 102 kg | ≈ 68 kg | ≈ 51 kg | ≈ 41 kg |
Ví dụ: một sàng rung mini khung thép nặng 18 kg, trên lưới có khoảng 4 kg bột, motor 2,3 kg, tổng M ≈ 24 kg. Với 1 kN, gia tốc đạt khoảng 1.000 / 24 ≈ 42 m/s² ≈ 4,2 g – vừa đủ cho sàng bột. Nếu khung nặng 40 kg thì gia tốc chỉ còn khoảng 2,2 g, sàng chạy chậm và dễ nghẹt lưới.
Biên độ rung đạt được
Biên độ đỉnh–đỉnh xấp xỉ 2 × mô-men tĩnh tổng / khối lượng tham gia rung. Với 1 kg·cm và M = 25 kg, biên độ đỉnh–đỉnh ≈ 2 × 1 / 25 = 0,08 cm = 0,8 mm; với M = 50 kg còn khoảng 0,4 mm. Đây là mức biên độ điển hình của motor 2 cực (khoảng 0,3–0,8 mm), hợp sàng bột, hạt nhỏ, nhưng không đủ để “hất” vật liệu thô hoặc vật liệu ẩm dính.
Hai con số 95 kg và 98 kg trên ảnh chỉ khác nhau do làm tròn quanh mức F/g ≈ 102 kg (cột 1 g của bảng).
Lắp phễu, silo nhỏ chống kẹt liệu
Đây là ứng dụng phổ biến nhất của cỡ 0.1kW. Vật liệu bột, hạt mịn (bột mì, đường, bột cà phê, hạt nhựa, phân bón dạng hạt) hay bị tạo vòm hoặc bám thành ở phần côn phễu; motor rung 2 cực tần số cao phá vòm và làm vật liệu chảy đều. Kinh nghiệm điển hình khi chọn lực rung cho phễu:
Sàng rung mini và máng cấp liệu máy đóng gói
Sàng tròn nhỏ (đường kính 400–600 mm) dùng để rây bột, gia vị, tinh bột, hạt cà phê vỡ, hạt tiêu, bột thuốc thú y… rất hợp với motor rung 0.1kW. Với một motor gắn ở tâm đáy, lưới chuyển động tròn, vật liệu lan đều ra mép. Với sàng chữ nhật cần đưa vật liệu đi thẳng, dùng hai motor cùng mã quay ngược chiều để tạo rung tuyến tính (mục 7). Chọn tổng khối lượng sàng sao cho gia tốc đạt 3–5 g theo bảng ở mục 4.
Trong máy đóng gói hạt, bột, máng rung nhỏ đưa vật liệu từ phễu tới cân. Lực 1 kN đủ cho máng dài 300–600 mm, khung nhẹ. Bản 3 pha CVM 100/3 kết hợp biến tần cho phép hạ tần số ở cuối mẻ cân để cấp tinh, giúp cân đạt độ chính xác cao hơn.
Những việc không nên dùng cỡ 0.1kW
Quy tắc chung: chỉ có điện gia đình và không cần chỉnh tốc độ thì chọn bản 1 pha; có điện 3 pha hoặc cần điều chỉnh tốc độ rung bằng biến tần thì chọn bản 3 pha. Nhà xưởng có motor điện 3 pha và tủ điều khiển sẵn nên ưu tiên CVM 100/3; hộ gia đình, xưởng nhỏ quen dùng động cơ điện 1 pha sẽ tiện với CVM100-2S hoặc CVM-200S.
| Tiêu chí | Bản 1 pha (CVM100-2S, CVM-200S) | Bản 3 pha (CVM 100/3) |
|---|---|---|
| Nguồn | 220V gia đình | 3 pha 220V (Δ) hoặc 380V (Y) |
| Linh kiện phụ | Cần tụ (CVM-200S có tụ rời) | Không cần tụ |
| Chỉnh tốc độ | Không dùng biến tần thông thường | Dùng biến tần, khoảng 20–50 Hz |
| Mô-men khởi động | Thấp hơn, phụ thuộc tụ | Ổn định, khởi động dứt khoát |
| Đảo chiều | Đảo đầu cuộn đề qua tụ | Đảo 2 trong 3 pha |
| Phù hợp | Máy nhỏ, thiết bị di động | Dây chuyền, chạy liên tục, chạy cặp |
Khi chạy biến tần, chỉ điều chỉnh trong khoảng 20 Hz đến tần số định mức ghi trên tem, không vượt quá tần số này vì lực tăng theo bình phương tốc độ, làm quá tải ổ bi. Ở 40 Hz lực còn khoảng 64%, ở 30 Hz khoảng 36%, ở 20 Hz khoảng 16% so với lực ở 50 Hz.
Lỗi lắp đặt là nguyên nhân chính khiến motor rung cỡ nhỏ nóng, kêu, đứt bulông hay nứt chân. Các bước dưới đây áp dụng cho cả ba mã:
Khi dùng hai motor cho sàng rung chữ nhật, hai motor phải cùng mã, cùng mức búa, quay ngược chiều nhau để tạo rung tuyến tính; quay cùng chiều sẽ cho rung tròn. Hai motor cần khởi động đồng thời và có liên động bảo vệ: một motor lỗi thì ngắt cả hai. Đường tác dụng lực thường đặt nghiêng khoảng 45° so với mặt máng để có góc ném vật liệu phù hợp.
Lực rung được chỉnh bằng góc lệch giữa khối lệch tâm cố định và khối di động ở hai đầu trục, không chỉnh bằng điện áp hay bộ điều khiển. Khi khối di động chồng khít khối cố định, lực đạt 100%; xoay lệch ra, mô-men tĩnh tổng giảm, lực giảm theo. Với dòng CVM, lực giảm được tối đa khoảng 80%, nghĩa là motor 1 kN có thể hạ xuống còn khoảng 0,2 kN.

Hình mô tả kiểu chỉnh “loại C” dùng trên motor rung mini: quả văng dạng trụ có ren, vặn trên trục và khóa bằng đai ốc. Hình bên trái là vị trí 100% (lực lớn nhất), hình còn lại là vị trí đã vặn lệch để giảm lực. Motor khung lớn hơn có thể dùng kiểu khối lệch tâm khác; hãy mở nắp để xác định đúng kiểu trước khi chỉnh.
Trình tự chỉnh:
Máy rung yếu thì kiểm tra bệ và bulông trước rồi mới tăng búa. Máy rung quá mạnh, vật liệu nảy văng thì hạ búa xuống 50–70%. Muốn thay đổi lực liên tục trong lúc chạy thì dùng biến tần với bản 3 pha như mục 6.
Motor nóng, dòng tăng
Nguyên nhân thường gặp: bệ yếu hoặc cộng hưởng, búa đặt lệch hai đầu, lực rung quá dư so với khối lượng máy, điện áp thấp (bản 1 pha) hoặc mất pha (bản 3 pha). Vỏ ấm là bình thường; nóng đến mức không đặt tay được vài giây thì cần kiểm tra.
Kêu hú, rít, ồn bất thường
Tiếng rít đều thường đến từ ổ bi bị quá tải hoặc thiếu mỡ; tiếng lạch cạch theo nhịp là bulông lỏng, nắp chụp lỏng hoặc khung máy có mối hàn nứt. Ở tần số 48–49 Hz, tấm tôn phẳng rộng rất dễ cộng hưởng và phát tiếng ồn lớn; hàn thêm gân tăng cứng là cách xử lý hiệu quả.
Đứt bulông, nứt chân đế, nứt thành phễu
Hầu hết do bỏ qua một trong các bước ở mục 7: bắt 2 thay vì 4 lỗ, bulông cấp bền thấp, không siết lại sau giờ chạy đầu, hoặc gắn lên tôn mỏng không có tấm đế. Bulông lỏng làm lực rung chuyển thành va đập, đứt bulông rất nhanh.
Bản 1 pha không khởi động, chạy yếu
Với CVM-200S và CVM100-2S, motor ù mà không quay, hoặc quay chậm, nóng nhanh thường do tụ giảm điện dung hoặc hỏng. Thay tụ đúng giá trị µF và điện áp 450V AC. Kiểm tra thêm điện áp ổ cắm khi dùng dây nối dài quá dài, tiết diện nhỏ.
Để so sánh, video sau giới thiệu dòng motor rung ZW lực cố định, giúp hình dung khác biệt giữa kiểu khối lệch tâm cố định và kiểu CVM chỉnh được lực:
Motor rung 0.1kW có dùng cho bàn rung khuôn mẫu thí nghiệm được không?
Được với bàn nhỏ. Một khuôn lập phương 150 mm bằng thép nặng khoảng 12 kg, chứa khoảng 8 kg bê tông (0,0034 m³ × 2.400 kg/m³); cộng mặt bàn thép 10–15 kg và motor, tổng khối lượng tham gia rung khoảng 32–37 kg. Ở lực 1 kN, gia tốc đạt khoảng 2,8–3,2 g, vừa đủ để đầm một khuôn. Bàn đặt 2–3 khuôn cùng lúc (60–80 kg) nên dùng CVM-200S để giữ gia tốc trên 2,5 g.
Motor rung 0.1kW rung được bao nhiêu kg?
Khoảng 51 kg tổng khối lượng (máy + vật liệu) cho máng cấp liệu ở 2 g và 25–34 kg cho sàng rung ở 3–4 g. Mức 95–98 kg ghi trên ảnh chỉ đúng khi rung nhẹ khoảng 1 g.
CVM100-2S và CVM 100/3 cùng 1 kN thì khác nhau ở đâu?
Khác ở nguồn điện và khung vỏ: CVM100-2S 1 pha 220V, 2,3 kg, dài 169,9 mm; CVM 100/3 3 pha 220/380V, 5,9 kg, dài 231 mm. Hai mã không lắp lẫn chân đế cho nhau, nên khi thay thế phải khoan lại bệ.
CVM-200S chỉ 0,13 kW sao lại thuộc cấp lực 2 kN?
Công suất motor rung chủ yếu để thắng ma sát ổ bi và quạt gió của khối lệch tâm, không tỉ lệ thẳng với lực rung. Lực phụ thuộc mô-men tĩnh của khối lệch tâm và tốc độ quay. CVM-200S dùng khối lệch tâm lớn hơn trên cùng khung 231 mm nên lực cao hơn khoảng gấp đôi so với mã 1 kN.
Gắn motor rung 0.1kW lên phễu chống kẹt liệu được không?
Được, đây là ứng dụng phù hợp nhất của cỡ này. Với vật liệu khô chảy tốt, 1 kN hợp phễu chứa khoảng vài trăm kg đến 1 tấn trong phần côn; vật liệu ẩm, dính nên dùng CVM-200S.
Sàng rung mini dùng một hay hai motor 0.1kW?
Sàng tròn đường kính 400–600 mm dùng một motor ở tâm đáy. Sàng chữ nhật cần đẩy vật liệu đi thẳng thì dùng hai motor cùng mã quay ngược chiều; hai motor 1 kN cho tổng lực khoảng 2 kN, đủ cho sàng tổng khối lượng khoảng 41–68 kg ở 3–5 g.
Vật liệu thô, cục lớn có nên dùng motor rung 0.1kW 2 cực không?
Không phải lựa chọn tốt. Cùng lực và cùng khối lượng rung, biên độ tỉ lệ nghịch với bình phương tốc độ, nên motor 4 cực (khoảng 1.500 v/ph) cho biên độ gấp khoảng 4 lần motor 2 cực. Với sỏi, mảnh nhựa vụn, cục quặng, biên độ 0,4–0,8 mm của cỡ 0.1kW 2 cực chỉ làm vật liệu rung tại chỗ, ít dịch chuyển; nên chọn motor rung 4 cực cỡ tương đương.
Tụ cho motor rung 1 pha cỡ 0.1kW bao nhiêu µF?
CVM-200S tham khảo khoảng 8 µF, 450V AC; motor 1 pha cỡ 100–130 W nói chung dùng tụ chạy khoảng 4–8 µF tùy cuộn dây. Tụ quá lớn làm motor nóng, tụ quá nhỏ làm motor yếu, khó khởi động.
Motor rung 0.1kW 3 pha có chạy được bằng điện 220V gia đình không?
Không cắm trực tiếp được. Dùng biến tần vào 1 pha 220V, ra 3 pha 220V và đấu CVM 100/3 kiểu tam giác; với motor 0,1 kW, biến tần cỡ nhỏ nhất (0,2–0,4 kW) là đủ.
Giảm lực rung của motor 0.1kW tối đa được bao nhiêu?
Khoảng 80%: motor 1 kN hạ được xuống khoảng 0,2 kN, CVM-200S từ khoảng 2 kN xuống khoảng 0,4 kN.
Motor rung 0.1kW có chạy liên tục 24/24 được không?
Tem ghi chế độ S1 tức làm việc liên tục ở tải định mức. Điều kiện là bệ cứng, bulông siết đủ, búa không đặt quá mức cần và nhiệt độ môi trường bình thường. Với ứng dụng phễu, thường chạy gián đoạn theo chu kỳ xả nên motor bền hơn.